Home / Văn mẫu / Lớp 11 / Cảm nhận của em về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Cảm nhận của em về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

BÀI VĂN MẪU 1

A. Hướng dẫn tìm hiểu đề

– Xác định vấn đề nghị luận: nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

– Xác định luận cứ, luận chứng.

– Phạm vi tư liệu: bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

– Thao tác lập luận : phân tích, bình luận, nêu cảm nhận.

B. Hướng dẫn lập dàn ý

I. Mở bài

– Hàn Mặc Tử là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ ca lãng mạn 1930-1945.

– “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử nằm trong tập “Thơ điên” (hay “Đau thương”) được chính nhà thơ tập hợp lại vào 1938.

– Bài thơ thể hiện nổi cô đơn, tuyệt vọng của một con người trong thế giới đau thương đối với cuộc đời đầy niềm vui, ánh sáng bên ngoài.

II. Thân bài

a. Thiên nhiên con người xứ Huế trong buổi bình minh

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

– “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” : câu hỏi tu từ – là lời của Hàn Mặc Tử tự phân thân ra để hỏi mình đồng thời vừa mời mọc, trách móc với cả một niềm tiếc nuối. Từ sự phân thân đó, tiếp theo Hàn Mặc Tử đã làm một cuộc hành trình trở về thăm thôn Vĩ trong tâm tưởng. Từ đó, thôn Vĩ đã hiện ra với vẻ đẹp thanh khiết.

– “Nắng hàng cau” đó là thứ nắng mai in trên hàng cau. Trong vườn, cau là loại cây cao nhất vượt lên trên hết các loại cây khác vì thế cau thường bắt được những tia nắng đầu tiên trong buổi bình minh. Trong đêm lá cau thường được sương đêm tắm gội cho nên nó luôn giữ được vẻ tươi mới. Khi hàng cau bắt được nắng thì sẽ tạo ra nắng hàng cau – thứ nắng vàng hanh, mượt mà, long lanh, tinh khiết.

– Mặt trời càng lên cao thì nắng ngập dần khu vườn, đến lúc tràn đầy thì nắng sẽ biến cả khu vườn trở nên xanh thẩm như một viên ngọc lớn. Đặc biệt cách dùng từ ngữ độc đáo : “mướt quá”, “xanh như ngọc” – làm nỗi bật ánh xanh và sắc xanh. Cách diễn đạt đó làm tôn lên vẻ đẹp đơn sơ mà hết sức lộng lẫy của vườn Vĩ Dạ.

– “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” : con người thôn Vĩ xuất hiện với vẻ đẹp phúc hậu, hiền từ. Con người hòa quyện với thiên nhiên mang vẻ đẹp kín đáo mờ ảo.

b. Đêm trăng Vĩ Dạ

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

– Vẫn là cảnh sắc thiên nhiên nhưng trong khổ thơ này cảnh đã được “lạ hóa” in đậm cái Tôi đau thương của nhà thơ. Cảnh có gió, mây, hoa, dòng nước, hoa bắp, con thuyền, bến sông…Nhưng tất cả không một chút ràng buộc, không một mối dây liên hệ với nhau. Trong tự nhiên gió và mây không tách rời nhau. Gió có thổi thì mây mới bay và mây bao giờ cũng bay theo gió. Nhưng ở đây, mây và gió đã chia lìa, đoạn tuyệt với nhau.

– Trong cái xu thế tất cả dường như đều chia lìa, li tán. Trăng đã xuất hiện cùng với con thuyền, bờ bến và dòng sông.

– Sự liên tưởng đầy biến hóa táo bạo của nhà thơ qua hình ảnh “sông trăng” con thuyền “chở trăng”. Có thể hiểu hình ảnh “sông trăng” theo hai cách: trăng tỏa sáng xuống dòng sông, nước sông phản chiếu ánh trăng hay ánh trăng tan biến thành nước nên dòng sông hóa thành “sông trăng”.

– Trên dòng sông là con thuyền chở trăng về cập bến thời gian “tối nay”. Sự liên tưởng đầy biến hóa đã làm cho hai câu thơ tràn ngập ánh trăng. Điều đó ít nhiều làm mờ nhạt đi tâm trạng khắc khoải, thản thốt của nhà thơ ẩn đằng sau hình ảnh trăng, nước.

c. Tâm trạng băn khoăn, hoài nghi

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

– Câu thơ thứ nhất trong khổ thơ được ngắt nhịp 4/3. Trong đó có ba âm tiết được lập lại tạo thành điệp ngữ “khách đường xa”. Cách ngắt nhịp đó cùng với phép điệp ngữ tạo nên nhịp điệu gấp gáp, hối hả như một lời khẩn khoản, níu kéo trong tuyệt vọng.

– Hình ảnh người con gái xuất hiện trong mơ tưởng với sắc áo trắng, trắng đến nổi nhà thơ thản thốt “nhìn không ra”.

– “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” : Hàn Mặc Tử dùng hình ảnh “mờ nhân ảnh” để chỉ cái tôi đau thương của mình. Cái tôi nhạt nhòa không ra đường nét, tồn tại mà như không tồn tại nữa. ( “Cái quay búng sẵn trên trời – Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” – “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều). Một sự nhìn nhận đầy mặc cảm. Cái tôi ấy đối lập với con người mặt chữ điền, mặt áo trắng ở cõi đời ngoài kia.

– Trong câu thơ kết – nhà thơ dùng đại từ phiếm chỉ “ai” – “Ai” ở đây có thể là người thôn Vĩ hay bất kì ai hiểu được, cảm thông được cho nỗi đau riêng tư của Hàn Mặc Tử. Cách diễn đạt phiếm định này hé mở cho ta thấy sợi dây tình cảm, sợi dây níu kéo, nối kết hai thế giới – thế giới thôn Vĩ và thế giới đau thương của nhà thơ để hi vọng.

Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, “Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh đẹp, thơ mộng về một miền quê đất nước là tiếng lòng của con người tha thiết yêu đời, yêu người.

III. Kết bài

Bài thơ có cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, có mối tình đẹp nhưng ẩn khuất đằng sau là tình cảm hết sức đáng trân trọng và cảm thông của Hàn Mặc Tử.

BÀI VĂN MẪU 2

Đề bài: Bạn hãy cảm nhận bài thơ “ Đây thôn vĩ dạ ” của Hàn Mặc Tử.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” đây là một bài thơ trữ tình trong số những bài thơ yêu thương của ông Hàn Mặc Tử. Bài thơ được viết khi ông đã mắc bệnh phong và cuộc sống của ông lúc mấy giờ chỉ bó gọn trong trại phong Tuy Hòa. Với một người yêu cuộc sống yêu thiên nhiên, yêu con người như ông mà lại mắc phải căn bệnh kia cùng với cái chết cận kề thì Hàn Mạc Tử không khỏi điên cuồng giãy giụa mình trong bệnh tật thế nhưng may sao trong những năm tháng ấy Hàn mạc Tử được một người mà mình yêu mến năm xưa đã gửi cho một tấm thiệp với câu hỏi sao anh không về chơi thôn Vĩ? Thế là bao nhiêu tình cảm của mình đã khiến cho nhà thơ sáng tác bài thơ này. Và lời nhắn nhủ hỏi thăm của người tình ấy đã khiến cho nhà thơ không khỏi phải nuối tiếc vì một mối tình mà chính ông lại quá nhút nhát để tiến đến.

Bài thơ mở đầu bằng chính câu hỏi của bà Hoàng Thị Kim Cúc nói về thiên nhiên con người xứ Huế trong buổi bình minh trong tấm thiệp gửi cho Hàn Mạc Tử:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Đây là câu hỏi nghi vấn được đặt làm câu thơ mở đầu cho bài thơ nhằm để thấy được sự trách móc đầy yêu thương của người con gái năm xưa dành cho người trong trại phong Tuy Hòa, qua câu hỏi ấy ta còn thấy được tình cảm mà Hoàng Cúc danh cho nhà thơ đó là sự quan tâm hỏi thăm đến người xưa cũ. Vậy câu hỏi kia không chỉ để hỏi mà nó còn mang cả sự thương cảm, nhớ nhung, yêu thương, hay quan tâm và cả trách móc nữa. Còn Vĩ Dạ kia chính là Huế, là nơi mà hai người đã gặp nhau và nảy sinh tình cảm bằng sự im lặng và kết thúc cũng như thế. Còn những câu thơ sau nhà thơ vẽ lên cảnh đẹp của thôn Vĩ Dạ bằng hình ảnh nắng được nhắc đến hai lần trong câu thơ thứ hai cho ta thấy được một cảnh tượng của buổi sớm tinh khôi nơi thôn Vĩ. Câu thơ như vẽ ra những hình ảnh nắng mới chiếu sáng từng đọt cau, lá cau để làm nên hình tượng nắng của hàng cau. Và phải chăng nhà thơ đã nói lên cái đặc trưng nhất của xứ Huế mà không phải nơi nào cũng có, không chỉ có vậy mà buổi sáng nơi đây còn hiện lên thật xanh mướt tinh khôi trong hình ảnh của khu vườn nhà ai xanh như ngọc. Vườn ai, đó là vườn của Hoàng Cúc hay của bất kì nào của Huế?. Còn cái màu xanh ngọc trong trẻo được nhà thơ sử dụng để nói lên cảnh thiên nhiên của con người nơi đây. Không chỉ là hình ảnh của thiên nhiên mà con là hình ảnh của con người Huế cũng được hiện lên với vẻ đẹp duyên dáng qua hình ảnh “lá trúc tre ngang mặt chữ điền”. Đó là một vẻ đẹp kín đáo dịu dàng và phúc hậu.

Đến khổ thơ tiếp theo mà nhà thơ như thể hiện nỗi buồn của bản thân mình, nhà thơ không nói trực tiếp mà mượn hình ảnh thiên nhiên để nói lên tâm trạng của mình:

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Ở đây nhà thơ lại nói là gió theo lối gió mây bay đường mây. Nói như thế nhà thơ muốn thể hiện sự chia rẽ cách xa trong lòng mình, và phải chăng nhà thơ đang tiếc thương cho mối tình của mình?. Trước hết chia rẽ do nhà thơ nhút nhát và thứ hai bây giờ có muốn nói thì cũng đã quá muộn màng bởi vì người con gái ấy đã đi lấy chồng, còn nhà thơ thì đang mang trong mình một căn bệnh vì thế mà ta nhận ra một bi kịch tình cảm ở đây. Dòng nước buồn thiu, hoa bắp ở bãi nào đó khẽ lay, và cái lay ấy chỉ là một chút rất nhẹ nhàng mà thôi. Còn hình ảnh con thuyền ở đây đậu bến sông trăng thật yên ả làm sao. Và rồi nhà thơ đã cất lên câu hỏi chứa đầy bi kịch “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Cái bi kịch nằm ở chữ “Kịp” ấy, rõ ràng là một cảnh tượng nên thơ nên họa, và đẹp hiền hòa yên bình thế nhưng qua con mắt của người cuộc sống chỉ được tính lại từng ngày ít ỏi mà hạnh phúc lứa đôi dang dở thì lại trở thành buồn hiu hắt đầy bi kịch.

Đến cuối cùng nhà thơ vẫn không thôi mơ về người con gái ấy, nhà thơ đang nhớ hay là đang luyến tiếc:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Khách đường xa là ai có phải chăng là người con gái mang tên Kim Cúc ấy không. Điệp từ “khách đường xa”như thể hiện được nỗi nhớ của nhà thơ với người con gái ấy. và nhà thơ cảm thấy mình như đang mơ màng chìm đắm trong nỗi nhớ ấy. còn hình ảnh áo người con gái ấy trắng nhìn không xa , chẳng biết được là do trắng qua hay là do sương khói mờ nhân ảnh hay chính là những giọt nước mắt của nhà thơ làm nhạt nhòa hình ảnh ấy. Cũng có thể đó là màu của kí ức làm cho nó trở nên mờ nhạt trong tâm trí của con người. không phải là sự mờ nhạt của tình cảm mà đó là sự mờ nhạt do kí ức quá là xa xôi.

Kết thúc bài thơ nhà thơ lại vang lên một câu hỏi đầy tâm trạng và câu hỏi ấy là hỏi người con gái hay hỏi chính mình?. Dù hiểu theo cách nào thì câu hỏi ấy cũng không có câu trả lời mà nó chỉ hỏi ra để mang tâm trạng đau khổ của nhà thơ trước số phận của mình mà thôi.

Tóm lại bài thơ là lời nói, là dòng tâm sự của nhà thơ dành cho người con gái mà mình đã lỡ để dành cơ hội yêu thương cho người khác. Không những thế bài thơ còn miêu tả được có cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, có mối tình đẹp nhưng ẩn khuất đằng sau là tình cảm hết sức đáng trân trọng và cảm thông của nhà thô Hàn Mặc Tử.

Bình luận cho bài viết

Nhận xét

Có thể bạn quan tâm

Phân tích khổ thơ đầu bài thơ đây thôn ví dạ Hàn Mạc Tử

Nếu nhân loại không còn khao khát nữa Và nhà thơ – nghề chẳng kẻ …