VĂN MẪU 1

Nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du ta không thể không nhắc đến tuyệt tác của ông: Truyện Kiều, một tác phẩm mang giá trị nhân đạo, giá trị nhân văn sâu sắc. Song tác phẩm này còn thành công ở giá trị nghệ thuật, nghệ thuật trong thơ đã lên đến đỉnh cao. Đặc biệt là nghệ thuật dẫn diễn tả tâm trạng nhân vật. Một trong những đoạn trích đặc sắc nhất về cuộc độc thoại nội tâm là Trao duyên. Đây là đoạn thơ diễn tả nỗi đau khổ của Thúy Kiều khi trao duyên cho em gái là Thúy Vân, để nhờ Thuý Vân trả nghĩa cho Kim Trọng, người yêu của mình.

Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Không phải nhờ mà là cậy, chị nhờ em giúp chị với tất cả lòng tin của chị. Nhờ em nhưng cũng là gửi gắm vào em. Bao nhiêu tin tưởng bao nhiêu thiêng liêng đặt cả vào từ cậy ấy! Cũng không phải chỉ nói mà là thưa, kèm với lạy. Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự “thay bậc đổi ngôi” giữa hai chị em như thế. Nguyễn Du thật tài tình, như đọc thấu tất cả nỗi lòng nhân vật. Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật, nói hết với em, phải giãi bày tất cả. Bởi vì không có cách nào khác là phải nhờ em. Gánh tương tư đâu có nhẹ nhàng gì, thế mà vì mình giờ đây bỗng giữa đường đứt gánh, ai mà không đau khổ. Nhưng, gánh nặng vật chất thì san sẻ được, nhờ người khác giúp đỡ được, còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều hiếm thấy xưa nay. Vì vậy, Kiều mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa, vì nàng hiểu nỗi khó khăn, sự tế nhị của gánh nặng này. Rõ ràng, Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu của mình để giúp chị. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Tuy nhiên, Thúy Vân vốn là cô gái vô tư, thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay, Thúy Kiều phải giành cho mình phần hi sinh lớn hơn; không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha, cứu em.

Mối tình giữa Kim Trọng và Thúy Kiều là một mối tình trong sáng và đẹp đẽ nhất. Vậy nên Thúy Kiều khó lòng chia tay Kim Trọng. Nàng đã rất đau khổ, rất xót xa khi phải trao duyên cho Thúy Vân. Đây là nỗi đau đớn dằn vặt, đau đớn cho cuộc tình tan vỡ đồng thời cũng là nỗi xót xa, xót xa cho thân phận của chính mình. Nếu ta coi truyện Kiều là một bi kịch đằng đẵng về cuộc đời Kiều thì đoạn này thể hiện bi kịch đầu tiên ấy.

Trước khi nàng phải từ bỏ tất cả theo Mã Giám Sinh để có thể chuộc cha, thì nàng đã phải dùng mọi lời lẽ để nhờ Thúy Vân giúp mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Nàng dùng lời an ủi, động viên Vân bằng những lời rất thiết tha.

Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non

Nàng đã nhắc đến tình màu mủ, ruột thịt, mối quan hệ huyết thống mong có thể đền đáp, trả nghĩa cho tình đôi lứa, tình “non nước”. Nàng an ủi Vân cũng chính là an ủi mình đã chọn con đường đúng, mình đã bỏ qua chữ tình để giữ trọn chữ “hiếu”. Tuy đây là lời an ủi, động viên song là nỗi day dứt, xót xa trong Kiều. Kiếu tuy trao duyên chứ không thể trao tình được.

Nàng đã rối loạn rồi, nàng đã nghĩ đến cái chết:

Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây

Rồi nàng lại gợi những kỉ niệm cũ, những kỉ vật đẹp đẽ của mối tình dang dở:

Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung

“Chiếc vành” và “bức tờ mây” vốn là những vật đẹp đẽ, quen thuộc gắn bó giữa hai người nay lại là “của chung” của cả ba người Kim Trọng, Thúy Vân và Thúy Kiều. Kiều đã vô cùng xót xa khi dùng từ “của chung”. Lòng Kiều như xát muối, Kiều sao chịu được nỗi đau này, tình cảm sao có thể chia sẻ được đây? Kiều đã khéo léo dành chữ “duyên” giữ lại cho Vân, còn chữ tình thì vẫn giữ lại cho mình. Càng chứng minh rằng tình cảm của Kiều thật thiết tha, nồng cháy. Song càng nồng cháy bao nhiêu thì khi phải chia sẻ tình cảm Kiều lại càng đau đớn bấy nhiêu. Trong Kiều như càng ngày càng bì giằng xé, Kiều rối bời, đau xót cho thực tại phũ phàng.

Nhưng thật trớ trêu, Kiều càng giải bày tâm sự thì lời nói của Kiều lại càng đau xót hơn:

Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương huyền ngày xưa

Nàng không còn bình tĩnh nữa mà cũng không còn vui vẻ, tươi cười như ngày nào, nàng đã nhận ra và ý thức được thân phận của mình, thân phận tài hoa mà bạc mệnh. Vì tình cảm không thể chấm dứt nên cứ dai dẳng mãi khiến Kiều lại tiếp tục nhắc đến các kỉ vật “phím đàn”, “mảnh gương nguyền” và “chút của tin”. Đây không chỉ là các kỉ vật tượng trưng cho tình yêu hai người nữa mà chúng còn gợi ra sự xót xa cay đắng trong lòng tâm hồn Kiều:

Nàng lại một lần nữa nghĩ tới cái chết:

Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan

Kiều quả là người chung thủy, tuy đã trao duyên cho Vân rồi, tuy ngay cả khi nàng chết chăng nữa, nhưng nàng vẫn luôn mang theo lời thề đã trao cho Kim Trọng. Trong nỗi đau đớn của mình, nàng đã nhận mình là người thác oan. Qua đây, ta thấy rằng Kiều ý thức sâu sắc về thân phận bạc bẽo của mình. Nàng xót xa, hay chính tác giả cũng phải xót xa trước con người tài hoa, bạc mệnh. Qua đoạn này, Nguyễn Du đã tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến đương thời, xã hội đã chà đạp lên cuộc đời của con người, khiến họ đến bế tắc, đến đường cùng.

Kiều vô cùng day dứt, nối tiếc dĩ vãng đã xa, nàng cũng đau đớn trước thực tại cũng rất lo lắng, sợ hãi và bế tắc cho tương lai của chính mình: “mảnh gương nguyền ngày xưa”, “bây giờ trâm gãy bình tan”, “mai sau dù có bao giờ”. Một cuộc đời đầy những bất hạnh, và bi kịch, mọi thứ điều đen tối, đen tối cho cuộc đời nàng, cho tiền đồ của nàng:

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

Nàng quay sang nói với Kim Trọng, hay chỉ là bóng của Kim Trọng. Nguyễn Du đã dùng hình ảnh ước lệ thể hiện nỗi đau đột ngột, cái hạnh phúc của con người bỗng chốc đã bị tan vỡ, càng nhấn mạnh được cuộc đời bi kịch của nàng. Câu thơ giống như tiếng than xé lòng, một tiếng than não ruột về thân phận chính mình. Đối với người phụ nữ, đặc biệt là với Kiều, hạnh phúc quá mong manh, Kiều chưa kịp hưởng trọn hạnh phúc thì nó đã vụt mất. Nàng chưa kịp có một gia đình bên người mình yêu thì tai họa đã đến. Ta cảm nhận được nỗi tái tê, sự bế tắc trong lòng Kiều:

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi…
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng

Kìều tê tái nhận ra thân phận bi kịch của mình qua từ đã đành ấy, “ấy thôi”,

Phận sao phận bạc như vôi

Trong cùng một câu thơ mà từ “phận” đã được nhắc đến hai lần, như nhấn mạnh thêm số phận nhỏ bé của những con người tài hoa bạc mệnh, như khẳng định sự đau xót bẽ bàng của Kiều. Đặc biệt “đã đành” như nói lên tâm trạng ngậm ngùi, tủi hổ có mang cả nét buông xuôi, chấp nhận của nàng.

Câu thơ như thấm cả nước mắt chua chát của chính Kiều

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây

Câu thơ như vỡ òa trong nước mắt cay đắng của cuộc đời Kiều. Tuy đoạn thơ đã kết thúc trong tiếng gọi của Kiều với Kim Trọng vẫn còn nồng nàn, tha thiết.

Đoạn trích này là một bi kịch đầu tiên trong cuộc đời Kiều “từ đây “một lần nữa đánh dấu mốc thời gian cay đắng của cuộc đời Kiều. Ta như xót xa thay tấm lòng của nàng.

VĂN MẪU 2

phân tích đoạn trích bài trao duyên – truyện kiều.

Trong cơn gia biến, một mình nàng Kiều đứng ra thu xếp mọi việc. Trong khi đó nàng Kiều đang băn khoăn cân nhắc giữa chữ hiếu và chữ tình. Kiều cảm thấy cả hai đều rất nặng, nhưng rồi nàng quyết định chọn chữ hiếu để cứu cha và em gái, và rồi việc nhà đã tạm ổn cũng tới lúc Kiều nghĩ đến chuyện tình duyên. Trước hết, nàng nghĩ về nỗi khổ của người yêu và nàng không đành lòng với tình cảm của chàng Kim. Phải làm thế nào cho người yêu đỡ khổ. Kiều suy nghĩ mãi, và cuối cùng Kiều đành nhờ em gái là Thúy Vân thay mình trả nghĩa tình cho Kim Trọng.

Đoạn trích Trao duyên của nàng Kiều có thể chia đoạn trích ra làm hai phần với nội dung theo đoạn thơ:

Phần 1 (từ câu 1 đến câu 14): Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.

Phần 2 (từ câu 15 đến hết): Tâm trạng đau đớn của Kiều sau khi trao duyên.

Ở phần 1, nàng Kiều cò cách xưng hô chị, em rõ ràng với Thúy Vân. còn phần 2, sau khi đã trao duyên, thì Kiều cảm thấy hạnh phúc của mình đến đây đã châm dứt nên tự xưng mình là người mệnh bạc, và Kiều như đã quên rằng mình đang nói với em, tự nhiên chuyển sang nói với Kim Trọng đang vắng mặt.

Thuý Kiều nhờ em là Thuý Vân thay mình trả nghĩa tình cho chàng Kim Trọng thông qua những câu nói chuyện tế nhị của Thuý Kiều dành cho Thúy Vân. Cộng với tâm trạng nặng nề, đắn đo,khó nói của Kiều thì Thuý Kiều đã dùng những từ ngữ rất sắc sảo, tinh tế:  ” Hở môi ra cũng thẹn thùng”, sau đó mời Thuý Vân ngồi và bắt đầu câu chuyện.

Cậy em, em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Không thể chối cãi tài năng về ngôn từ của Nguyễn Du, dùng để diễn tả trọn vẹn cả ý và tình như từ “cậy em” và “lạy” trong câu thơ này. Có rất nhiều băn khoăn nhưng trong trường hợp này của Kiều, việc nàng “cậy” em nó không chỉ đơn thuần là sự nhờ vả giúp đỡ nữa mà còn là sự tin tưởng, và tin cậy đến mức tối đa mới có thể gửi duyên, trao phận cho cô em gái. Bởi vì Kiều tự thân  ý thức được em mình cũng sẽ ngạc nhiên và khó có thể chấp nhận được việc mình sắp “cậy” nên nàng rất cương quyết, và dứt khoát một lời rằng em có “chịu lời” thì “ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”  Đây là cách nói tạo sự ràng buộc tế nhị, làm cho Thúy Vân khó từ chối được. Và Kiều bắt đầu kể lại sự tình cho em nghe.

“ Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em

Kể từ khi gặp chàng Kim ,

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

Sự đâu sòng gió bất kỳ,

Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai? ”

Từng mộng cảnh, và từng phút giây thần tiên khi nào bên Kim Trọng cứ chập chờn xuất hiện trong tâm trạng của Kiều, cùng với những nghẹn ngào khi nàng kể lại cho em gái tường mối “keo loan” mà nàng và Kim Trọng đã thề nguyền chắp kết… Chính bởi Kiều là một đứa con hiếu thảo và hiểu chuyện nên sự mâu thuẫn “bên tình bên hiếu, bên nào trọng hơn” thì trong lòng Kiều hiểu rõ hơn ai hết.  Vậy ta có thể hình dung được khung cảnh của hai nàng Kiều nghẹn ngào trong đêm. Và họ thật đáng thương, kẻ cả người nhận duyên lẫn người trao duyên.  Và Thúy Kiều đã lâm vào tình cảnh không thể nào làm khác, khiến ta không khỏi xót xa.

“Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ, thay lời nước non……cho đến câu

Chiếc thoa với bức tờ mây.

Duyên này thì giữ, vật này của chung”

“Ngày xuân em hãy còn dài”, đây là cách nói tế nhị của Kiều gợi đến tình máu mủ, thân thuộc thiêng liêng để cho Thúy Vân không thể chối từ. Nhưng thực chất, Kiều đã dự đoán được phần nào sự khốn khổ, và trái ngang của con đường phía trước đang đợi mình: thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối, đây là sự suy nghĩ của Thúy Kiều trong đau khổ đã coi mình như người đã chết nhưng cũng phải thầm kín “ngậm cười” với sự “thơm lây” của duyên em cùng với chàng nơi trần thế. Mặt dù bình tĩnh khi kể về quãng thời gian êm đẹp cùng Kim Trọng bao nhiêu thì đến lúc trao kỉ vật cho Thúy Vân , Kiều lại tức tưởi, và không đành lòng bấy nhiêu.

“Chiếc thoa với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung”

Những kỷ vật để lại được thể hiện nỗi đau xót của nàng và làm cho nàng có sự mẫu thuận trong lòng Kiều dần chuyển sang sự ngậm ngùi chấp nhận sự thật khắc nghiệt. Phần hai khắc họa rõ sự ý thức bi kịch ấy của Kiều.

“ Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!

Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ gió cây,

Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.

Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt, khuất lời,

Rảy xin chén nước cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy bình tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”

Đây là giọng thơ với tiếng khóc nghẹn ngào, xót xa và đau khổ cho chính mình “Dù em nên vợ nên chồng…” thể hiện thái độ lúng túng của Thúy Kiều. Khi nói về lý tríthì Thuý Kiều muốn Thúy Vân và Kim Trọng nên vợ chồng, nhưng khi nói về tình cảm của Kiều thì Thuý Kiều dường như không muốn thế. Và sau đó tâm trạng của Kiều có sự đâu khổ tột định thông qua “Mai sau…. thác oan”  thể hiện sự rực rỡ trong quá khứ của Kiều, còn hiện tại thì có sự chia ly đau xót, tương lai thì mịt mù, làm cho Kiều không có hi vọng. Thế nên Kiều đang dặn dò Thuý Vân nhưng càng nói dường như Kiều quên đi có mặt của Thuý Vân, đó là những hình dung tương lai mờ mịt bi thảm của Kiều, được thể hiện trong tâm trạng càng lúc càng bi thiết, cộng với giọng điệu phảng phất như từ cõi âm vọng về của Thuý Kiều. Còn hiện thực quá đau khổ của Thuý Kiều trong câu thơ “Bây giờ trâm gãy bình tan….”, đây là số phận bất hạnh nhất của Kiều và đã đẩy con người có tình yêu đẹp vào sự chia ly, tan vỡ.

Mặt khác chúng ta cũng thấy rằng giữa Thuý Vân với Thuý Kiều trong đêm thâu mà còn là một tiếng nấc nghẹn gọi Kim Trọng của nàng Kiều trong sự chăng chối với chàng:

“ Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phân sao phận bạc như vôi?

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Để đền đáp công ơn sinh thành của cha mẹ, Kiều tự cho mình đã “phụ chàng” Kim bởi dù có là một cơn “gió hiu hiu” nhưng hồn nàng vẫn mãi mang nặng một lời thề nguyền với chàng Kim. Do đó nàng Kiều cảm tội lỗi và đã khiến nàng Kiều ngất đi trong tiếng than thấu tận trời xanh thông qua câu thơ “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!, Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”.

Thông qua những trích đoạn này bởi cái cảnh Trao duyên của nàng Kiều cũng đã giúp cho chúng ta cảm nhận được tính bi kịch trong tình yêu tan vỡ của Kiều. Và thông qua ngòi bút tuyệt vòi của Nguyễn Du đã làm cho chúng ta biết được thế giới nội tâm được diễn tả phong phú, phức tạp và rất chân thực của con người được thể hiện tài tình trong nhân vật Thuý Kiều, không những thế Nguyễn Du còn miêu tả về tâm lý của nhân vật rất  tinh tế trong tâm trạng Thúy Kiều. Chính vì thế mà đoạn trích trao duyện của Thuý Kiều đã đi vào đề tài truyền thống nhưng được biểu hiện qua tấm lòng có sức đồng cảm sâu xa,và để lại sự thông cảm sâu sắc trong lòng người đọc.